/Bóc tách/ Hồ Con Rùa - không gian đa tầng chồng lớp

Khu vực Công trường Quốc tế - Hồ Con Rùa trải qua nhiều thay đổi về thiết kế và công năng xuyên suốt trong dòng lịch sử của vùng đất Sài Gòn. Cùng lật giở từng lớp lịch sử chồng lấp trên khu đất Hồ Con Rùa và khám phá những đổi thay của thành phố, cảnh quan và con người.

Từ một cổng thành của công trình phòng thủ quân sự thời Nguyễn, khu đất này được san lấp và trở thành một tháp nước đặt giữa các con đường rợp bóng cây theo quy hoạch mới vào thời Pháp, sau lại trở thành một công trường thể hiện tình hữu nghị của các nước đồng minh thời Việt Nam Cộng Hoà. Ngày nay, những ý nghĩa được gán cho công trình hầu như đã trôi vào quên lãng, khu hồ trở thành một cột mốc trong hình dung chung của cư dân Sài Gòn - một không gian công cộng với hàng gánh, chuyện trò và kỷ niệm.

Phần 1 - Khảm Hiểm Môn (坎險門) 

Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, chúa vương Nguyễn Phước Ánh cho đắp Bát Quái Thành ở gò cao thôn Tân Khai thuộc đất Bình Dương vào năm 1790, tương ứng với khu vực quận 1 của Tp.HCM ngày nay, thành hình hoa sen, mở ra 8 cửa, có 8 con đường trong thành, 8 pháo đài (bastion) và 6 giác bảo (ravelin), công trình tọa ngôi Càn (Tây Bắc), trông hướng Tốn (Đông Nam).

Trong tám cửa thành có một cửa danh là Khảm Hiểm Môn, danh của cửa đặt theo quẻ Khảm trong Bát Quái, nguyên danh cửa được trích từ lời thoán trong Dịch Kinh là: “Thoán viết: Tập khảm, trùng hiểm dã, thủy lưu nhi bất doanh” (彖曰: 習坎, 重險也, 水流而不盈), tạm dịch: “Thoán rằng: Nguy hiểm trập trùng, nước vì trôi chảy, nên không tràn đầy”, đó là nguồn gốc của danh của cửa này.

Vị trí Khảm Hiểm Môn tương ứng với giao lộ của đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Phạm Ngọc Thạch ngày nay. Cũng theo miêu tả của Trịnh Hoài Đức các cổng thành của Bát Quái Thành đều có vọng lâu, phía trước các cổng có cầu bằng đá ong, cao rộng bền chắc, ở giữa có vòm để cho nước chảy qua, bắt qua Hộ Thành Hào, vị trí Khảm Hiểm Môn trong thành là nơi để các cơ quan hành chính, lúc đầu lập Nội Khố chứa đồ quý như vàng, bạc, tơ đoạn, vải lụa, sau bỏ Nội Khố đổi thành Kiên Tín Khố, cơ quan này gồm 5 gian nhà ngói, chuyên khâu các loại thuế và là nơi 5 trấn hội nạp tiền bạc, có đội quân riêng tên là Kiên Tín canh giữ, năm 1806 thì xây thêm kho đồn điền, công trình gồm có hai dãy, mỗi dãy 10 gian chuyên để chứa lúa thóc thu hoạch từ các đồn điền, có đội quân riêng tên là An Hòa canh giữ.

Bên ngoài Khảm Hiểm Môn là một ravelin (giác bảo) tương ứng với vị trí Công Trường Quốc Tế hay Hồ Con Rùa ngày nay. Bên ngoài lớp ravelin thì có một lũy đất chạy quanh thành là glacis (giai thành), có một trạm thường trú ở bên ngoài glacis là xưởng voi, chuyên chăm các voi chiến. Trạm lúc thì dời vào trong thành, lúc thì tản ra theo nguồn cỏ và nguồn nước về phía Biên Hòa, tùy lúc không nhất định. Các quần thể kiến trúc của Bát Quái Thành tồn tại đến năm 1835 thì vua Minh Mạng đã cho giải thể Bát Quái Thành để lập Gia Định Thành mới năm 1837 ở vị trí góc phía bắc của thành cũ, lúc này dấu vết của quần thể thành cũ chỉ là các con rạch nước xung quanh vốn là dấu vết của Hộ Thành Hào cũ, vì sự việc này mà Bát Quái Thành sau này còn được gọi Gia Định Phế Thành.

Tháp nước, minh họa của Tản Mạn Kiến Trúc

Phần 2: Tháp Nước (Château d’Eau)

Sau sự sụp đổ của Bát Quái Thành, khu vực này bị bỏ hoang trong một thời gian dài. Sau khi người Pháp bình định đất Nam Kỳ, họ bắt đầu tiến hành quy hoạch lại thành phố. Những tuyến đường trong thành phố mới do người Pháp quy hoạch có sự tương thích với các trục đường và các cạnh của Bát Quái Thành cũ. Tại vị trí Khảm Hiểm Môn cũ, người Pháp đã đặt khu vực cung cấp nước sinh hoạt cho toàn bộ thành phố Sài Gòn bấy giờ.

Việc xây dựng hệ thống cung cấp nước ở Sài Gòn, từ nguồn nước đến phân phối cho người dân trong thành phố, được chính quyền thuộc địa bắt tay thực hiện ngay từ năm 1876.

Tháp nước nhìn từ trên cao, minh họa của Tản Mạn Kiến Trúc

Sơ đồ nhà máy nước Sài Gòn, minh họa của Tản Mạn Kiến Trúc

Theo nội dung trong quyển sách “Sài Gòn và Nam Kỳ thời kỳ tân canh 1875-1925” của tác giả Nguyễn Đức Hiệp, sơ đồ tháp nước cho thấy hệ thống gồm một giếng nước có độ sâu 20m, lấy nước từ mạch nước ngầm trải rộng khắp bên dưới thành phố. Nước được hai máy bơm, xếp theo tầng, bơm vô 4 bể chứa cao trên mặt đất làm thành cấu trúc hình chữ thập quanh tháp nước ở giữa. Một máy bơm thứ 3 bơm nước từ các bể chứa này lên đỉnh tháp nước. Tòa nhà chứa máy bơm (nhà máy cung cấp nước) nằm ở Quảng trường Tháp nước, nay vẫn còn tồn tại ở góc đường Võ Văn Tần – Phạm Ngọc Thạch. Trong hình sơ đồ, và cả trong các tấm hình xưa, có thể thấy được cột khói cao của nhà máy nước, là ống xả khói cho hệ thống phát điện chạy bằng hơi nước để cấp điện cho 3 máy bơm nước.

Các bể lọc nước ngầm được xây dựng hoàn toàn bên dưới lòng đất, bên dưới khu vực Hồ Con Rùa hiện nay. Những bể này làm thành một phòng khổng lồ dưới mặt đất dài 120m, ngang 12m và cao 9m50, được ngăn ở chính giữa bởi các giếng đá hình tròn. Vách tường của phòng được cấu tạo bởi các cột nâng đỡ vòm và những tấm mặt lọc bằng đá khô và hững móng đá cao cho tới mặt đất. Những ống dẫn nước xuyên qua các móng đá này và lấy nước ở sâu trong mạch nước ngầm. Quá trình thi công bắt đầu từ tháng 11/1879 và hoàn thành tháng 7/1881.

Đến năm 1921 khi dân số thành phố đã tăng cao, tháp nước này không còn đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp nước cho Sài Gòn nữa, chính quyền đương thời đã lập đề án cho xây một hệ thống dẫn nước mới từ Tân Sơn Nhứt. Tháp nước này dần mất vai trò quan trọng và không lâu sau đó đã bị dở bỏ.

Đài Chiến sĩ Trận vong, minh họa của Tản Mạn Kiến Trúc

Phần 3: Đài Chiến sĩ Trận vong (Monument aux Morts)

Sau khi hạ giải Tháp Nước, chính quyền đương thời đã cho xây đài kỷ niệm Thống chế Joffre tại khu vực này, bấy giờ có tên là quảng trường Maréchal Joffre. Đài tưởng niệm tồn tại đến khoảng năm 1927 thì được chuyển đổi thành Đài chiến sĩ trận vong (Monument aux Morts), công trình tưởng niệm các lính đã hy sinh trong Thế chiến thứ nhất với hai tượng tên là “người lính” và một tượng tên là “hòa bình” bằng đồng đặt hướng ra hai phía đường Phạm Ngọc Thạch ngày nay. Tượng đặt dưới chân một cây cột obelisk, một mô hình tượng đài phổ biến. Cột obelisk này được lấy theo nguyên mẫu trụ hoa biểu trong lăng Tự Đức, hai bên chân cột là tượng hai con rồng theo phong cách Á Đông đặt hướng ra hai phía của đường Võ Văn Tần ngày nay, trên đỉnh là tượng Nữ thần Chiến thắng cầm dãy vòng ô liu (garland olive), cũng là một hình tượng phổ biến trên các tượng đài trận vong thời bấy giờ. Người dân thời ấy gọi khu vực này là Công trường Ba Hình theo ba bức tượng ấy.

Đến ngày 29/7/1964, những thành viên trong Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn đã dùng dây thừng buộc vào các bức tượng rồi kéo đổ chúng. Sự kiện này đã làm xáo động truyền thông thời bấy giờ. Cột obelisk vẫn tồn tại đến cuối thập niên 1960 thì được thay thế bằng một tượng đài mang ngôn ngữ của một thời đại mới, đó được gọi là Công trường Quốc tế Viện trợ.

Công trường Quốc tế Viện trợ, minh họa của Tản Mạn Kiến Trúc

Phần 4: Công trường Quốc tế Viện trợ (International Aid Monument)

Công trường Quốc tế Viện trợ, hay thường được người dân thành phố gọi là Hồ Con Rùa, được nhấn mạnh bằng một tượng đài theo chủ nghĩa hiện đại do Kiến trúc sư Nguyễn Kỳ thiết kế. Đề án được lựa chọn trong một cuộc thi thiết kế ngày 24 tháng 11 năm 1967 và công trình được khánh thành vào buổi sáng Chủ nhật ngày 22 tháng 6 năm 1969.

Công trường được thiết kế theo mặt bằng hình bát giác, vốn hình dáng này được kế thừa lại từ các công trình trước đó từng tồn tại ở vị trí này, như một cách để gợi nhớ đến tiền thân của thành phố Sài Gòn là thành Bát Quái, hay thành Gia Định. Ở giữa công trường có một tháp cao được đúc bằng bê tông cốt thép. Theo bản thiết kế mà chúng tôi tiếp cận được từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, tháp mang tên Hoa Tự Do với 5 cánh hoa, mỗi cánh hoa lại có thêm 5 cánh nhỏ, trên cùng là Nhụy Hoa Tự Do được ốp đồng. Hình dáng Hoa Tự Do mô phỏng một đóa hoa sen trồi lên từ mặt hồ hình bát giác, gợi ta nhớ đến một đoạn miêu tả trong Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức: “Thủy ư Bình Dương huyện địa, Tân Khai thôn, cao phụ trúc Bát Quái thành, như liên hoa trạng, khai bát môn” (始於平陽縣地,新開村,高阜築八卦城,如蓮花狀,開八門), tạm dịch: “Bắt đầu đắp thành Bát Quái ở gò cao thôn Tân Khai thuộc đất Bình Dương, hình như hoa sen, mở ra tám cửa”.

Công trường Quốc tế Viện trợ, minh họa của Tản Mạn Kiến Trúc

Bên dưới tháp Hoa Tự Do là một đài có cầu thang đi lên gọi là Lễ Đài, hình oval được thiết kế có tay đỡ mô phỏng cấu kiện thừa vinh trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, ốp gạch mosaic màu nâu, lan can Lễ Đài được ốp cẩm thạch trắng. Trên Lễ Đài đặt một đỉnh đồng lớn hướng mặt về phía nam, mỗi năm khi đến lễ kỷ niệm thì các đại diện chính phủ đương thời đến thắp nhang và làm lễ. Phía tây của Lễ Đài có một tượng rùa bằng đồng đội bia, bên trên là tấm bia ốp bằng đá cẩm thạch khắc tên các nước viện trợ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, trên cùng tấm bia là một hình khắc hồ lô theo tạo hình truyền thống bằng đồng. Hình tượng con rùa đội bia lấy cảm hứng từ những tượng rùa ở Văn Miếu Hà Nội và Văn Miếu Huế, nguyên hình tượng con rùa lấy từ Tứ Linh, mà theo lời dạy của Khổng Tử trong sách Kinh Lễ rằng nếu thuần hóa được Quy thì lòng người quy phục (龜以為畜, 故人情不失). Tấm bia và tượng rùa đã bị phá hủy vào năm 1976 bởi những người không rõ danh tính, các vật liệu bằng đồng của công trường như đỉnh đồng, hồ lô, nhụy hoa tự do cũng không còn hiện diện đến ngày nay. Tượng đài hàm chứa nhiều tham chiếu về lịch sử hình thành của Sài Gòn, diễn giải những yếu tố văn hóa Việt Nam bằng ngôn ngữ thiết kế mới mẻ, hướng tới tính năng động toàn cầu đặc trưng của tinh thần đô thị thời kỳ ấy.

Bản thiết kế của KTS Nguyễn Kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

Kiến trúc sư Mel Schenck, một trong những nhà nghiên cứu về kiến trúc hiện đại ở Sài Gòn đã nhận định về Công trường Quốc tế Viện trợ như sau: “Đây thực sự là thiết kế kiến trúc hiện đại với biểu hiện trừu tượng của một cành sen. Mặc dù ban đầu mang tính năng đại diện cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tài trợ, nhưng thiết kế của tượng đài không mang tính chính trị cũng như thể hiện bản sắc dân tộc, không giống như hầu hết các tượng đài khác trên thế giới, ngay cả trong thế kỷ 20. Cuộc thi này khẳng định miền Nam Việt Nam đã tiếp nhận sự tân tiến và chủ nghĩa hiện đại, tượng tự như cuộc thi thiết kế Dinh Độc Lập năm 1962.” (trích Kiến trúc Hiện đại miền Nam Việt Nam, NXB Thế Giới & Phương Nam Books, 2022).

Tạm kết

Một không gian công cộng không chỉ được đánh giá qua giá trị kiến trúc, cảnh quan, mà còn trong sự đa chiều tương tác mà không gian ấy mở ra. Nếu dành thời gian trò chuyện cùng những người bán hàng rong, chúng ta có thể nhận ra họ đến từ khắp các khu vực trên đất nước. Khu vực này đại diện cho tính năng động của Sài Gòn như một đô thị đón các dòng di cư, nơi người di cư tìm thấy cơ hội sinh nhai và văn hoá của họ cũng góp phần định hình ngược lại thành phố mà họ nương tựa. Những vỉa hè, lối đi dạo vòng quanh Hồ là không gian ăn vặt và chuyện trò của giới trẻ. Sự quan tâm dành cho khu Hồ Con Rùa cũng thay đổi theo thời gian, có lúc những trung tâm thương mại và phố đi bộ mới thu hút giới trẻ nhiều hơn và không gian quanh hồ đôi khi trở nên vắng lặng. Thói quen sử dụng không gian công cộng của cư dân, bao gồm việc bán rong và mua hàng rong, đôi khi cũng mâu thuẫn với những kỳ vọng của nhà chức trách về đô thị sạch đẹp - văn minh. Hồ Con Rùa như một nơi chốn công cộng lâu đời của Sài Gòn minh hoạ đầy đủ cho sự đa chiều, mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn mà thành phố trải qua. Bản thân công trình như một thực thể vật lý, khối cây xanh khổng lồ ôm trùm lấy nó và sự đa dạng trong đời sống văn hoá của con người làm cho Hồ Con Rùa trở thành một đại diện cho đời sống đô thị của thành phố Sài Gòn.

Bài viết và minh họa: Leo

Trình bày: Nhật Tiến

Đọc thêm các bài viết thuộc chuyên mục

/BÓC TÁCH/

Bài viết liên quan

Nằm trong kế hoạch định hướng Đà Lạt trở thành trung tâm học thuật của đất nước, năm 1961 Nguyên Tử Lực Cuộc đã thành lập Trung Tâm Nguyên Tử Lực Đà Lạt theo lệnh của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Trong các phương án gửi về trong cuộc thi thiết kế, giải pháp của KTS Huỳnh Kim Mảng được đánh giá cao và được trao giải nhất. Tuy thế, dự án xây dựng lại chợ trung tâm đã không được theo đuổi đến cùng và ngôi chợ vẫn giữ nguyên hiện trạng cho đến hôm nay.